tín hiệu bệnh Whitmore
Whitmore còn gọi bệnh melioidosis, là bệnh lây nhiễm cấp tính nghiêm trọng do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây nên. B. pseudomallei sống trong đất, vì thế đường lây nhiễm chính là qua tiếp xúc các vết trầy xước trên da có đất hoặc nước có vi khuẩn. tróc nãền nhiễm qua đường hô hấp khi hít phải các hạt bụi đất có vi khuẩn trong các trận gió lốc xoáy trước cơn mưa.
chiêu tậpt số nghiên cứu cho thấy có thể nhiễm bệnh khi ăn thức ăn có vi khuẩn. Chưa có bằng chứng về lây bệnh giữa người có người hoặc lây từ động vật sang người qua đường không khí. Vì thế, các ca bệnh Whitmore thường thưa thớt, lẻ tẻ chứ không bùng phát thành dịch hoặc đại dịch.
thời gian ủ bệnh từ chiêu chiêu tậpt đến 21 ngày, nhàng nhàng 9 ngày. những triệu chứng thường xuất hiện 2 đến bốn tuần sau lúc tiếp xúc vi khuẩn.
MedicineNet chia bệnh melioidosis thành những loại hơic nhau, mỗi dòng có dấu hiệu và triệu chứng riêng:
Nhiễm trùng phổi: những dấu hiệu và triệu chứng của melioidosis phvòng biến nhất, xuất hành từ bệnh phổi nơi nhiễm trùng có thể hình thành chiêu tậpt khoang mủ (áp xe). tác động của nhiễm trùng phổi có thể từ viêm phế quản nhẹ đến viêm phổi nặng. Do đó, bệnh nhân cũng có thể bị sốt, nhức đầu, chán ăn, ho, khó thở, đau ngực và đau nhức cơ nhắc chung.
Nhiễm trùng cục bộ: lúc nhiễm trùng trên da (viêm mô tế bào) sẽ có những dấu hiệu như đau hoặc sưng, loét và áp xe, knai lưngm theo sốt và đau cơ.
Nhiễm trùng máu: ví như melioidosis thâm nhập vào máu, những triệu chứng có thể bao gồm sốt, nhức đầu, suy hô hấp, khó chịu ở bụng, đau khớp và mất phương hướng.
Nhiễm trùng lan tỏa: Bệnh melioidosis có thể lây lan từ da qua máu để trở nên chiêu tậpt dạng melioidosis mãn tính ảnh hưởng đến tim, não, gan, thận, khớp và mắt.
![]() |
|
Chẩn đoán bệnh Whitmore chuẩn xác phải dựa trên những xét nghiệm phân lập và định danh vi khuẩn trong loại bệnh phẩm máu, mủ, đờm, nước kém chất lượngi hoặc dịch não tủy. Ảnh: Luke Duggleby. |
Theo bác sĩ Đỗ Duy Cường, Giám đốc trọng điểm Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, Whitmore được coi là “kẻ giả danh” vì bệnh không có những biểu thị lâm sàng rõ ràng và thường bị chẩn đoán lâm sàng nhầm sang những bệnh hơic như viêm phổi, lao phổi, áp xe cơ, nhiễm trùng huyết do những vi khuẩn khác như tụ cầu, liên cầu… Chẩn đoán xác thực bệnh phải dựa trên các xét nghiệm phân lập và định danh vi khuẩn trong các cái bệnh phẩm máu, mủ, đờm, nước fakei, hoặc dịch não tủy.
Whitmore không phải là bệnh nhiễm trùng cơ hội, gặp ở mọi đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người già, người khỏe mạnh cho đến người có hệ miễn dịch yếu. Người có nguy cơ nhiễm Whitmore phổ biến nhất là dân cày nghtrằno, có tiền sử đái lớná đường, người nghiện rượu, người có bệnh kinh niên về phổi và thận.
Theo Báo cáo từ các vùng có bệnh trên toàn cầu, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh chiếm 5-15% tổng số ca Whitmore. Khoảng 35% trẻ mắc bệnh có miêu tả viêm mủ tuyến nước miếng có tai, 65% ở các thể khác như sốt cao, viêm phổi, áp xe ở lách và thận, cũng có thể biểu thị khu trú bằng các ổ nhiễm khuẩn trên da, đặc biệt ở vùng đầu, mặt và cổ. Diễn biến nặng có thể gây sốc nhiễm khuẩn huyết dẫn đến tử vong.
Ở người to, đa số bệnh nhân mắc bệnh có mô tả viêm phổi kèm nhiễm khuẩn huyết, viêm bàng quang, có các vết mưng mủ trên da, 1 số trường hợp còn có biểu lộ viêm cơ, viêm khớp hoặc viêm màng não.
Whitmore là bệnh vùng, phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á và phía Bắc Australia, trong đó vùng Đông Bắc Thái Lan (gần có miền Trung Việt Nam) được coi là tâm điểm của dịch bệnh trên thế giới. Singapore là đất nước có tỷ lệ người dân ít mắc bệnh nhất Đông Nam Á, song hàng năm số người mắc Whitmore tại đất nước không khiến cho nông nghiệp này tất cả, nhàng nhàng tỷ lệ một,3 người/100.000 dân.
Tại Việt Nam, khoảng 70% ca Whitmore nhập viện từ thời gian từ tháng 9 đến tháng 11. Số bệnh nhân tăng tỷ lệ thuận mang lượng mưa. Đa số bệnh nhân là dân cày, tuổi từ 50 đến 70, có bệnh nền đái tháo dỡ đường hoặc bệnh mạn tính can hệ đến phổi và thận, có biểu hiện nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi khi nhập viện.
công đoạn điều trị Whitmore chia khiến hai pha: Pha điều trị tấn công và pha duy trì uống kháng sinh. Phải tiêu tiêu dùng kháng sinh (thường là nhóm ceftazidime) tiêm tấn công liều cao ghéo dài liên tục trong ít nhất khoảng hai tuần, sau đó tiếp diễn dùng kháng sinh duy trì khoảng từ 3 đến 6 tháng nữa. Điều nguy hiểm là bệnh dễ tái phát, sức khỏe của bệnh nhân rất dễ suy kiệt do bệnh tái đi tái lại hoặc ví như điều trị không đúng phác đồ. Tỷ lệ bệnh nhân tử vong rất cao, tới 40%.
Đến nay Whitmore chưa có vắcxin phòng bệnh.
Bài viết tín hiệu bệnh Whitmore đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Framesi Việt Nam.
source https://framesi.com.vn/tin-hieu-benh-whitmore/

Nhận xét
Đăng nhận xét